08/07/2026
KHI BẰNG ĐẠI HỌC KHÔNG CÒN LÀ "TẤM VÉ" ĐỔI ĐỜI: TIẾN SĨ THẤT NGHIỆP, THẠC SĨ LÀM VIỆC PHỔ THÔNG...
Ở nhiều nền kinh tế châu Á, tấm bằng đại học từng được xem là “tấm vé đổi đời”. Nhưng khi số người học cao ngày càng nhiều, thị trường lao động lại không tạo ra đủ công việc tương xứng, bằng cấp dần mất đi sức nặng vốn có.
Tại Trung Quốc, câu chuyện tiến sĩ phải đi giao đồ ăn, cử nhân và thạc sĩ ứng tuyển vào vị trí ghi chỉ số công tơ gas đã trở thành biểu tượng cho tình trạng “bội thực” bằng cấp. Giáo dục đại học mở rộng nhanh giúp nhiều người trẻ tiếp cận tri thức hơn, nhưng đồng thời cũng tạo ra một nghịch lý: càng nhiều người có bằng, tấm bằng càng khó bảo đảm một công việc tốt.
Hệ quả không chỉ nằm ở thất nghiệp. Nhiều sinh viên tốt nghiệp phải làm trái ngành, nhận việc dưới trình độ hoặc thu hẹp kỳ vọng nghề nghiệp. Tâm lý bi quan lan rộng trong giới trẻ Trung Quốc qua các xu hướng như “nằm yên”, sống tối giản cực đoan hay thậm chí trở thành “con cái toàn thời gian”.
Tại Hàn Quốc, áp lực còn lan tới cả nhóm học vấn cao nhất. Cứ 3 người mới nhận bằng tiến sĩ thì có 1 người chưa có việc làm hoặc không tham gia thị trường lao động. Nhóm tiến sĩ trẻ dưới 30 tuổi chịu tác động nặng nhất, khi thiếu kinh nghiệm thực tế trong lúc doanh nghiệp ngày càng ưu tiên người “làm được ngay”.
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng này. Nhiều cử nhân, thạc sĩ vẫn loay hoay tìm việc dù doanh nghiệp than thiếu lao động. Điểm nghẽn nằm ở sự lệch pha giữa đào tạo và nhu cầu thực tế khi người học có bằng nhưng thiếu kỹ năng, còn doanh nghiệp lại đặt yêu cầu kinh nghiệm quá cao với lao động trẻ.
“Bội thực” bằng cấp vì thế không có nghĩa là xã hội thừa người giỏi, mà là thừa bằng cấp không chuyển hóa được thành năng lực nghề nghiệp. Khi tấm bằng không còn là bảo chứng tuyệt đối, thị trường lao động châu Á đang buộc cả nhà trường, doanh nghiệp và người trẻ phải nhìn lại vấn đề rằng học để có bằng, hay học để thật sự làm được việc?
Theo: Insight Kinh Tế