07/08/2026
SỰ NGHIỆP VÀ CUỘC ĐỜI CỐ TRUNG TƯỚNG ĐỒNG VĂN CỐNG
“Trung tướng Đồng Văn Cống sinh 1918 mất 2005, bí danh Hồng Kỳ, tên gọi trong chiến trường là Chín Hồng, sinh tại ấp Giồng Ông Xồm, xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (nay thuộc xã Tân Hào, tỉnh Vĩnh Long). Ông sớm giác ngộ cách mạng, tham gia hoạt động từ năm 1936 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Trong suốt gần 50 năm hoạt động cách mạng và quân ngũ, ông có nhiều đóng góp quan trọng trong xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh Bến Tre, Quân khu 8, Quân khu 9, Bộ Tư lệnh Miền và quân đội nhân dân Việt Nam, góp phần làm nên những thắng lợi vẻ vang trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Năm 1936, ông tham gia hoạt động cách mạng bí mật và đến ngày 16 tháng 02 năm 1939, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đây là dấu mốc mở đầu cho chặng đường cống hiến không ngừng nghỉ của ông đối với sự nghiệp cách mạng.
Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, với cương vị Bí thư Chi bộ xã Tân Hào kiêm Tổng ủy viên Việt Minh, ông trực tiếp lãnh đạo nhân dân địa phương nổi dậy giành chính quyền, góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước.
Đầu năm 1946, khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ, chiến tranh diễn ra vô cùng ác liệt. Trước tình hình đó, ngày 12 tháng 02 năm 1946, Đồng Văn Cống được giao phụ trách Trưởng Ban Quân sự xã Tân Hào và đứng ra thành lập Đội du kích Tân Hào.
Những ngày đầu, lực lượng chỉ có 36 chiến sĩ, với vỏn vẹn bốn khẩu súng săn, còn lại là mã tấu, dao găm và lựu đạn tự tạo. Tuy thiếu thốn về vũ khí nhưng với tài thao lược, lòng dũng cảm và nghệ thuật tổ chức chiến đấu linh hoạt, ông đã nhanh chóng xây dựng Đội du kích Tân Hào trở thành lực lượng chiến đấu tinh nhuệ.
Ngay sau khi thành lập, Đội du kích Tân Hào đã liên tiếp lập nhiều chiến công như phục kích tiêu diệt một trung đội lính lê dương tại cầu Bà Ba Ngỡi, tập kích quân địch tại chợ Hương Điểm, đồng thời mở nhiều trận đánh trên địa bàn Tân Hào, Tân Thanh, Hiệp Hưng, Châu Hòa và các vùng lân cận, thu nhiều vũ khí để trang bị cho lực lượng.
Đặc biệt, trận Bàu Dơi vào tháng 5 năm 1946 đã trở thành một trong những chiến công tiêu biểu nhất của lực lượng vũ trang Bến Tre.
Trước trận đánh, Đồng Văn Cống đã gửi thư khiêu chiến quân Pháp với những lời lẽ đầy khí phách:
"Báo cáo cho Tây!
Ông Cống đóng tại Bàu Dơi.
Thằng nào ngon vô đánh chơi.
Đừng đốt nhà, đốt nhà dở ẹt!"
Bị khiêu khích, quân Pháp kéo quân vào Bàu Dơi và rơi đúng trận địa phục kích của quân ta. Kết quả, toàn bộ trung đội lính lê dương bị tiêu diệt, ta thu nhiều vũ khí mà không có thương vong.
Chiến thắng ấy nhanh chóng lan rộng khắp Nam Bộ, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến của quân và dân Bến Tre. Từ đây, Đội du kích Tân Hào phát triển thành Bộ đội Tân Hào, được nhân dân trìu mến gọi là "Bộ đội Ông Cống", gắn liền với câu truyền khẩu:
"Bộ đội ông Cống,
Đóng ở Bàu Dơi.
Tây vô đánh chơi,
Thằng nào đốt nhà dân, đả đảo."
Ngày 01 tháng 5 năm 1946, lực lượng tiếp tục phát triển thành Phân đội vũ trang Giồng Trôm - đơn vị bộ đội địa phương đầu tiên của tỉnh Bến Tre.
Cuối năm 1946, lực lượng được tổ chức thành Chi đội 19, Đồng Văn Cống giữ chức Chi đội trưởng.
Dưới sự chỉ huy của ông, Chi đội 19 liên tiếp lập nhiều chiến công vang dội tại Châu Phú, Cầu Giấy, Lộ Quẹo, Vàm Nước Trong, Phú Lễ, Ba Tri, Châu Thành và nhiều địa bàn khác, tiêu diệt hàng trăm tên địch, thu hàng trăm khẩu súng và nhiều phương tiện chiến tranh.
Điều đặc biệt là trong Chi đội 19 còn có một tiểu đội chiến sĩ quốc tế gồm nhiều quốc tịch như Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản, An-giê-ri và Ma-rốc. Đây là những tù binh được cách mạng cảm hóa, tình nguyện đứng vào hàng ngũ chiến đấu dưới sự chỉ huy của Đồng Văn Cống.
Ngày 23 tháng 6 năm 1947, trên cơ sở Chi đội 19, Trung đoàn 99 được thành lập và Đồng Văn Cống được giao làm Trung đoàn trưởng đầu tiên.
Dưới sự chỉ huy của ông, Trung đoàn 99 không chỉ chiến đấu xuất sắc mà còn tích cực vận động quần chúng, giúp nhân dân sản xuất, tuyên truyền cách mạng, xây dựng cơ sở chính trị và đoàn kết đồng bào các tôn giáo tham gia kháng chiến.
Chính từ Trung đoàn 99 đã hình thành nên các đơn vị chủ lực nổi tiếng của Khu 8 như Tiểu đoàn 307, Tiểu đoàn 308 và Tiểu đoàn 310.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, Trung đoàn 99 đã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng danh hiệu "Trung đoàn Gương mẫu", trở thành niềm tự hào của lực lượng vũ trang Nam Bộ.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Đồng Văn Cống tập kết ra Bắc và tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng trong Quân đội nhân dân Việt Nam như Tỉnh đội trưởng Bến Tre, Tham mưu trưởng Phân Liên khu miền Đông, Tư lệnh Sư đoàn 330, Phó Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu.
Ông cũng là một trong những cán bộ có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng tuyến vận tải chiến lược Hồ Chí Minh trên biển, góp phần chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.
Năm 1963, ông trở lại chiến trường miền Nam và tiếp tục được Đảng, Nhà nước và Quân đội giao nhiều trọng trách như Tư lệnh Quân khu 8, Tư lệnh Quân khu 9, Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, ông giữ quyền chỉ huy Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Miền, đồng thời là Tư lệnh Quân đoàn dự bị, sẵn sàng ứng phó nếu Mỹ tái can thiệp quân sự. Ông cũng là một trong những vị tướng có mặt sớm nhất tại Sài Gòn để tổ chức tiếp quản thành phố sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng.
Sau năm 1975, Trung tướng Đồng Văn Cống tiếp tục phục vụ trong quân đội. Trong cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam, ông giữ cương vị Tư lệnh tiền phương Quân khu 7, trực tiếp chỉ huy lực lượng quân tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân Campuchia đánh bại chế độ diệt chủng Pôn Pốt và bảo vệ vững chắc biên giới Tây Nam của Tổ quốc.
Trước khi nghỉ hưu, ông giữ chức Tư lệnh Quân khu 7, Phó Tổng Thanh tra Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời là Đại biểu Quốc hội khóa VI.
Những năm cuối đời, ông tiếp tục tham gia nhiều hoạt động xã hội, đền ơn đáp nghĩa, khuyến học, xóa đói giảm nghèo, chăm lo nạn nhân chất độc da cam và giữ cương vị Trưởng Ban Liên lạc đồng hương Bến Tre tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Với gần 50 năm cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, Trung tướng Đồng Văn Cống được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Nhì, Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất, Huân chương Quân kỳ Quyết thắng cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Ngày 06 tháng 8 năm 2005, Trung tướng Đồng Văn Cống từ trần, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với đồng chí, đồng đội và Nhân dân cả nước.
Để ghi nhớ những cống hiến to lớn của ông đối với quê hương và đất nước, Đền thờ được khởi công xây dựng vào năm 2008, khánh thành và đưa vào sử dụng ngày 30 tháng 7 năm 2009, với tổng kinh phí đầu tư 4,814 tỷ đồng; Công trình được xây dựng trên khuôn viên rộng hơn 1.170 mét vuông, gồm đền thờ chính, nhà trưng bày, sân lễ cùng các hạng mục phụ trợ, tạo nên một quần thể kiến trúc hài hòa và thống nhất. Năm 2025 được sự quan tâm, hỗ trợ từ nguồn kinh phí xã hội hóa trên 2 tỷ đồng, Đền thờ đã được trùng tu, sửa chữa các hạng mục như đền thờ chính, nhà trưng bày, nhà bảo vệ, cổng, tường rào và các công trình phụ trợ, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của công trình, đáp ứng tốt hơn nhu cầu dâng hương, tưởng niệm và giáo dục truyền thống cách mạng.
Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống được xây dựng ngay trên quê hương ông không chỉ để tưởng nhớ công lao của một vị tướng tài ba, mà còn là nơi lưu giữ ký ức lịch sử, giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng và lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Ngày nay, nơi đây không chỉ là công trình tưởng niệm một vị tướng tài ba mà còn là địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị lịch sử cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.