Sài Gòn Có Gì Vui?

Sài Gòn Có Gì Vui? Chia sẻ những kỷ niệm, ký ức, hình ảnh, niềm vui & nỗi buồn, nhà hàng, quán ?

Chiều nay tao mà trúngTám à, mày biết tay…Tao dẫn mày đi quậyNhớ về đừng có khai… 😂Từ vỉa hè thoải máiTới bar biết cuồng...
27/11/2021

Chiều nay tao mà trúng
Tám à, mày biết tay…
Tao dẫn mày đi quậy
Nhớ về đừng có khai… 😂

Từ vỉa hè thoải mái
Tới bar biết cuồng quay
Mày mà thèm thêm… gái
Tao cũng chiều tất tay!

Xong dìa nhà tao ngủ
Chớ đừng có theo trai
Lỡ vợ mày khóc lóc
Mấy chị giết tao ngay! 😂

Lời riêng đà cạn tỏ
Mày ghi nhớ liền tay
Nếu tao mà có trật
Mày cũng đừng có cay… ☺️

(Sài Gòn cuối hạ đầu đông
Gió lay bóng lá nhớ mong một người!)

vo

Hôm qua anh 9 quyết chọc bà con cười để thư giãn xíu bằng cách đem trái khổ qua đã hầm ra treo lên cây. Thấy gần 200 ace...
29/08/2021

Hôm qua anh 9 quyết chọc bà con cười để thư giãn xíu bằng cách đem trái khổ qua đã hầm ra treo lên cây. Thấy gần 200 ace thả haha mà ảnh dzui thiệt dzui. Có 1 nàng tận Melbourne nói chớ em zoom thiệt kỹ coi là treo thiệt hay photoshop 🤪🤪🤪, giỡn quoài treo thiệt nha thiệt nha cưng. Sợ rớt cục nhưn là khóc tiếng Miên luônnnn...

Sẵn đây 9 post chia sẻ cách làm món khổ qua dồn thịt ha:

- Khổ qua bỏ ruột, để nguyên trái hay cắt đôi, ngâm với chút muối cho sạch & đỡ đắng. Rửa sạch để thiệt ráo nước.

- Chả cá (cá thu, cá thác lác, cá măng...) trộn với mọc hay thịt xay theo tỉ lệ tuỳ thích, trộn với nấm mèo ngâm mềm cắt sợi hay cắt nhuyễn, tí bún tàu ngâm cắt nhỏ. Xay nhuyễn khoảng 5 củ hành tím trộn vào hỗn hợp này, nêm chút muối + bột nêm + tiêu xay.

Đơn giản hơn mà vẫn ngon là trộn chả cá + mọc + củ hành tím xay nhuyễn + chút hành phi ngon và gia vị như trên. Mùi HÀNH PHI cho vị ngon lắm nha. Thử 1 lần nha bà con.

- Dồn nhân vào khổ qua. Để sẵn chút nước mắm y, khi dồn xong thoa đều lên mặt thịt. Bí quyết này giúp nhân dính vào khổ qua hơn (không bị rớt ra) và nhân thơm hơn. Hồi xưa mình hay băm thịt (có máy xay thịt đâu mà xay) nên má của 9 nói thoa nước mắm vậy giúp thịt không bị hôi thớt hihi.

- Bắt nồi nước sôi lên, cho chút muối + bột nêm xong thả từng trái khổ qua vào. Chờ sôi lại hớt bọt sạch và để lửa vừa đến khi khổ qua mềm. Nhà mà có nồi ủ nấu món này là tuyệt nhứt, đỡ tốn gas/ điện & khổ qua thấm mềm mà nước canh lại không rút mặn.

Nồi khổ qua dồn thịt ăn rất ngon - mát và có thể giúp ngưng nấu trong 2-3 bữa. Chỉ cần bắt nồi cơm với rót chén mắm dằm ớt cay.

Theo Cô Chín Cây Quéo

LẠI... CÁI TÊN SÀI GÒN...(theo cụ Vương Hồng Sển - Nhà cổ ngoạn độc đáo nhất Sài Gòn)Thiệt rắc rối với chữ Sài Gòn. Ai n...
22/08/2021

LẠI... CÁI TÊN SÀI GÒN...
(theo cụ Vương Hồng Sển - Nhà cổ ngoạn độc đáo nhất Sài Gòn)

Thiệt rắc rối với chữ Sài Gòn. Ai nói sao thì người đọc và người nghe cũng không chịu...

Thôi thì thử nghe cụ Vương Hồng Sển nói sao ha... (phần 3)

=============================

Nối chân Phù Nam trên vùng Thuỷ Chân Lạp là người Cam Bốt

Không nói đâu xa, từ đầu thế kỷ thứ XVII, người Cam Bốt đã có mặt tại vùng Sài Gòn lâu rồị Nhưng họ không khai thác chi cả. Họ chỉ ăn hoa lợi tự nhiên: thú rừng, lâm sản; lá lợp nhà, cây làm củi, v.v… Bằng cớ hiển hiện là khi lọt về tay người Việt, Sài Gòn vẫn là một thôn quê rừng, ruộng, vô danh.

Nghiệm ra rằng người Khmer sanh đẻ tại Nam Việt, phát âm không giống y giọng Khmer trên Nam Vang. Tình trạng này có thể so sánh lại với tình trạng người Việt vùng Cà Mau Bạc Liêu giọng nói vẫn khác giọng Sài Gòn hoặc giọng Hà Nộị Đối với tiếng Khmer, trên Nam Vang, dùng nhiều chữ "r" có thể nói mỗi tiếng nói, gần như mỗi có đánh lưỡị Trái lại miền Nam Lục Tỉnh, dân Khmer nuốt gần mất chữ “r”. Tỷ dụ trên kia nói "Préam riet" (là 5 đồng bạc) thì dưới này họ nói "Péam yiel", v.v… chưa quen tai, không hiểu họ muốn nói gì.

Bởi rứa, về danh từ "Sài Gòn" đối với người Cam Bốt, khi họ gọi:

a) Prei Kor (nếu họ là người Nam Vang),
b)Prei Nokor hoặc,
c) Pẹi - ừ - Ko (nếu họ là người Khmer Lục Tỉnh),
d) Pẹi - ằng - ko

Khiến người Việt ta điếc con ráy và… khó phân biệt được.

Vả trong bốn cách phát âm trên, tưởng cần ghi lại hai cách Nam Vang, có phần khoa học, đáng tin cậy hơn, nhưng trong hai cách ấy cũng chưa phân biệt cách nào đúng nghĩa của người xưa.

Prei, prey: rừng, không còn ai chối cãi.
Kor: Kô, Ku: có hai nghĩa khác hẳn nhau:
Khi "kor" làgòn, Prei-kor là "Rừng gòn".
Khi khác thì"Kor":"Kũ": boeuf, Prei-Kor tức là "Rừng bò"?

Có một tỷ dụ: Bockor: bâuk kũ: boeuf à bosse: bò u. Cố Tandart, sành về Miên ngữ, lại cắt nghĩa: Nokor do "Nagaram" tiếng Nam Phạn (Pâli), đồng nghĩa với chữ “thành" Việt Hán tự trong các danh từ: thành thị, đô thị (cité); thành phố (ville).

Một tự vị Miên Pháp nữa dịch: Nokor: royaume: quốc. Vậy thì: Prei-Nokor là lâm quốc.

Các thuyết trên cho phép ta định chừng“Nokor” là giọng kinh chợ, giọng các nhà hay chữ thông thái trên Nam Vang, chớ người Khmer… miền lục tỉnh, nước phèn cứng lưỡi, quen nói trại bẹ, thuở nay, để ám chỉ Sài Gòn, họ dùng một danh từ lơ lớ nghe tương tự "Pei-ừ-ko" hay "Pẹằng-ko" không rõ chắc được.

Bằng như có ai hỏi họ sát đề quá, để tránh cái khó, họ dùng một danh từ khác, rõ rệt không còn chối cãi và lầm lộn nữa, ấy là danh từ "srock yuong" ta âm ra "Sốc Duồng" để chỉ xứ Sài Gòn. Lấy theo điểm này và căn cứ hai chữ nên thơ "Srock yuong", thì người Cam Bốt tự ngàn xưa đã ngấm ngầm nhìn nhận đất Sài Gòn là lãnh thổ Việt Nam không chối được. Dân Khmer Lục Tỉnh là người trí óc mộc mạc chất phác, người củi lục làm ăn, không biết nói láo và không biết nguỵ biện!

Do các thuyết Lang sa kể trên, ta có thể kết luận:

Dưới thời đại cam-bốt-diên, Sài Gòn là nước, xứ ở giữa rừng (Prei Mokor). Vịn theo thuyết này danh từ "Sài Gòn", trước định do “Prei Nokor” là "rừng gòn" không vững. Nay nên dịch "lâm quốc" đúng hơn. Tóm lại. danh từ “Sài Gòn" không ắt do điển “Prei Nokor” mà có.

(Theo "Sài Gòn năm xưa, Vương Hồng Sển)

* Hình:
- Nhà thờ Chợ Quán, nhà thờ cổ nhất Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1904.
- Chợ Bến Thành cũ tấp nập từ rạng sáng với đường xe điện (tramway) đi Chợ Lớn. Dòng chữ trên bưu ảnh: Nam kỳ - SÀI GÒN - Chợ lúc 6g sáng.

NGAY LÚC NÀY: Người dân Sài Gòn đi siêu thị đông nghẹt từ sớm: ‘Không biết khi nào mới tới lượt!’"Hôm nay 5 giờ mấy đã t...
21/08/2021

NGAY LÚC NÀY: Người dân Sài Gòn đi siêu thị đông nghẹt từ sớm: ‘Không biết khi nào mới tới lượt!’

"Hôm nay 5 giờ mấy đã thức rồi đi mà tới giờ vô vẫn không kịp ngồi mấy hàng đầu, tình hình này chắc phải đợi lâu rồi.” — Bà Ngọc Hạnh.

Sáng sớm 21.8, người dân Sài Gòn ùn ùn kéo đến các siêu thị lớn, nhỏ mua thực phẩm dự trữ. Dù đi từ tờ mờ sáng lúc siêu thị chưa mở cửa, tuy nhiên nhiều người cho biết mình ‘không chen được tới cổng, nói gì mua đồ’.

🛑”Nhìn cảnh này ngán quá!”

Có mặt tại nhiều siêu thị lớn cũng như các cửa hàng bán thực phẩm ở Q. Gò Vấp, Q. Bình Thạnh sáng sớm… ghi nhận nhiều siêu thị, cửa hàng chưa mở cửa nhưng đã có hàng dài người dân Sài Gòn xếp hàng sẵn chờ để được mua thực phẩm. Nhiều nơi vì lượng người vào siêu thị ùn ứ nên lực lượng chức năng phải có mặt để điều phối, xử lý.

Tại một siêu thị lớn trên đường Nguyễn Văn Lượng (P. 10, Q. Gò Vấp), hơn 6 giờ sáng nhưng đã có hàng trăm người xếp hàng phía trước cổng chờ được vào bên trong để mua hàng. Siêu thị vừa ở mở cửa, dòng người ùn ùn tiến vào bên trong khai báo y tế, đưa thẻ đi chợ cho nhân viên siêu thị rồi nhanh chóng tiến vào ghế để ngồi. Vì chậm chân, bà Thúy Thị Ngọc Hạnh (63 tuổi, ở Q. Gò Vấp) phải xếp hàng sau rất nhiều người.

Bà Hạnh thở dài: “Trời, hôm nay 5 giờ mấy đã thức rồi đi mà tới giờ vô vẫn không kịp ngồi mấy hàng đầu, tình hình này chắc phải đợi lâu rồi.” Bà Hạnh nói hôm qua mình đi siêu thị thấy đông người nên về nhà, nay tới thì càng đông hơn, rồi chặc lưỡi: “Biết vậy hôm qua mua cho rồi!” Vì nhà có 3 người nên bà nói mình mua không quá nhiều đồ, chỉ là để trữ cho an tâm trong thời gian Sài Gòn AI Ở ĐÂU Ở YÊN ĐÓ. Xếp sau bà Hạnh hàng trăm lượt người.

Bà Tăng Huyền Trang (45 tuổi) đến trễ nên hết ghế, phải đứng đợi. Bà Trang nói với con gái: “Đã nói đi sớm hơn đi mà không nghe, bây giờ ở sau bét chắc tới mai quá.” Hôm qua, bà Trang đã mua thực phẩm, tuy nhiên vẫn còn thiếu nhiều món nên phải ghé lại để mua thêm.

“Nhà có người bệnh, nên trữ nhiều mới yên tâm, không sợ bị “hụt chân”. Nhìn cảnh này ngán quá”, bà mệt mỏi nói.

🛑Đi từ 6 giờ sáng vẫn không vào được

Trong khi đó, 7 giờ sáng phía trước một siêu thị trên đường Nguyễn Kiệm (Q. Gò Vấp) đông nghẹt người. Những người chạy xe máy đến sau được một dân quân đang điều phối nói: “Đông quá rồi anh chị ơi, quay đầu xe đi.”

Một phụ nữ ngồi trên xe máy gần siêu thị tránh xa dòng người đông nói mình tới cũng sớm, tuy nhiên vừa đến thì “giật mình” vì cảnh tượng quá đông. “Bây giờ bước chân vô siêu thị còn khó, nói gì tới mua đồ. Mai ghé mua cũng vậy nên thôi ngồi đợi vậy”, nhìn vào dòng người đông trước mặt, bà nói.

Tại Mega Market An Phú (Q. 2) từ 7 giờ đã đóng cửa vì số lượng khách quá lớn. Một người dân đi chợ cho biết bình thường siêu thị mở cửa vào lúc 7 giờ nhưng hôm nay từ 6 giờ đã có người đến xếp hàng trước cổng. Sau khi cho một lượng khách vào xếp hàng rồng rắn bên trong. Đến 7 giờ sáng, siêu thị thông báo không nhận thêm khách hàng vì không đủ hàng cung ứng, yêu cầu khách hàng quay lại vào đầu giờ chiều.

Tuy nhiên, dù đã thông báo nhưng lượng lớn người mua hàng vẫn ở trước cổng, trình giấy đi chợ & mong muốn được vào trong mua hàng khiến lực lượng chức năng phải liên tục nhắc nhở.

Đến 7 giờ 30 phút, lực lượng chức năng đã giải tán được một lượng người tập trung trước cổng nhưng rất nhanh sau đó lại có rất nhiều người lái xe đến đậu trước cổng dù biết không thể vào bên trong.

Trong khi đó, trước siêu thị ở đường Phan Văn Trị (Q. Gò Vấp) cũng có hàng trăm lượt người chờ phía trước cổng. Nắng nóng, đông người, nhiều người mòn mỏi chờ đợi nói: “Không biết khi nào mới tới lượt đây trời. Nhưng không mua không được.”

Hơn 8 giờ sáng, dòng người đổ về các siêu thị ngày càng đông, ai cũng nhễ nhại mồ hôi dưới nắng, mong có thể sớm vào mua được thực phẩm...

Bà Bùi Thị Dung (52 tuổi) bất lực đứng trước hàng rào của một siêu thị ở Q. 2. Bà cho biết hôm qua cũng đi siêu thị này vào lúc 13 giờ, xếp hàng hơn 1 giờ 30 phút mới được vào trong nhưng khi vào thì không còn gì để mua. Hôm nay bà đã dậy sớm để đi siêu thị nhưng vẫn chậm hơn một số người nên phải ở bên ngoài.

"Siêu thị yêu cầu có giấy đi chợ đúng ngày giờ, đúng phường mới cho vào trong. Từ đây đến 23.8 sẽ cố gắng đi chợ cho bằng được vì gia đình đông người lắm không mua được đồ ăn thì không biết làm sao", bà chia sẻ.

Theo Thanh Niên

LÊ VĂN DUYỆT - MỘT LƯƠNG THẦN TÀI ĐỨCTrong những ngày cúm Tàu hoành hành, đọc lại những chuyện về Đức Tả Quân mà thấy bu...
21/08/2021

LÊ VĂN DUYỆT - MỘT LƯƠNG THẦN TÀI ĐỨC

Trong những ngày cúm Tàu hoành hành, đọc lại những chuyện về Đức Tả Quân mà thấy buồn cho tình cảnh hiện giờ của Nam kỳ và Saigon.

Giá mà người ta có được 1 chút phẩm hạnh của ngài!

——-

"Sanh ở đời loạn, không dựng cờ đánh trống đại tướng, chép công danh vào sử sách không phải là trượng phu."

Đây là câu nói bất hủ thể hiện khí phách nam nhi đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất, muốn tạo dựng cơ nghiệp to tát của một người trai thời loạn "thời thế tạo anh hùng" của Đức Tả quân Lê Văn Duyệt.

Quả thật, cuộc đời ngài đã minh chứng cho khí phách hào hùng này của mình. Sanh vi tướng, tử vi thần... Gương của ngài còn sáng chói và vang dội hơn hẳn Hán Thọ Đình hầu Quan Vũ thời Tam Quốc ở Tàu!

——-

Đức Tả quân Thượng công Lê Văn Duyệt là một vị quan rất mực thanh liêm. Dù quyền hành lớn, ông không hề hiếp đáp kẻ dưới, hoặc tìm mọi cách để bỏ túi riêng. Nhiều lúc ngài còn bỏ tiền riêng của mình để làm việc hữu ích chung. Quân lính của ngài rất có kỷ luật, không hề phá phách, cướp bóc… Và khi được triều đình cử đi dẹp loạn ở nơi nào, nhài cho điều tra kỹ để biết rõ nguyên nhân tại sao dân nỗi loạn. Nếu biết chắc do đám quan lại sở tại tham nhũng, bức hiếp làm cho dân chúng quá khổ sở, thì ngài thẳng tay trừng trị bọn tham quan trước rồi mới kêu gọi những kẻ làm loạn trở về đầu thú. Nhờ chính sách sáng suốt, khoan dung đó nên Tả Quân đã vỗ yên ở nhiều nơi nhanh chóng, mà không tốn kém nhiều tiền bạc và nhân mạng.

Dẫn chứng như việc chiêu dụ Mọi Vách Đá vào những năm 1807 và 1808. Trong chiến dịch này ngài đã cho xử trảm Chưởng cơ Lê Quốc Huy, một tên đại tham nhũng. Năm 1819, ngài được cử đi kinh lược hai trấn Thanh, Nghệ. Ở đây, ngài cũng thẳng tay trừng trị nhiều quan lại tham ô. Đặc biệt là ngài cho lập ra ba đội lính “Hồi Lương” (An Thuận, Thanh Thuận, và Bắc Thuận) gồm những thành phần nổi loạn chịu qui phục.

Thêm nữa, việc làm nổi tiếng nhất của ngài là xử tử Huỳnh Công Lý, Phó Tổng Trấn Gia Định. Huỳnh Công Lý là cha của một bà thứ phi rất được vua Minh Mạng sủng ái. Ỷ thế cha vợ vua, viên quan lớn này vơ vét tài sản của dân chúng, hà hiếp kẻ yếu, hối lộ trắng trợn. Tiếng kêu ca thấu đến tai Tả Quân, ngài cho điều tra tận gốc. Có đủ bằng chứng ngài dâng sớ lên triều đình hài rõ tội trạng của Huỳnh Công Lý. Ngại triều đình vị nể cha vợ của vua, không dám thẳng tay trừng trị, Tả Quân dùng quyền “tiền trảm hậu tấu” được Gia Long ban cho để ra lệnh xử trảm Huỳnh Công Lý, trước khi có lệnh giải tội phạm về kinh cho vua xét xử!

Ngoài đức thanh liêm, ngài còn có cái dũng của bậc trượng phu, không e ngại hay sợ sệt khi thi hành công việc lợi dân lợi nước. Trường hợp vừa kể là một ví dụ. Và lần hai là có lần nhà vua cử người vào Nam giữ chức vụ quan trọng đều bị ngài từ chối, vì ngài biết những người này chỉ là những kẻ tham lam, hại dân hại nước. Một trong số đó là Bạch Xuân Nguyên - mà sau này sẽ là đầu mối của cuộc nổi loạn do Lê Văn Khôi, con nuôi ông, chủ xướng.

Nhà vua cũng thầm ghét vì Tả Quân không cấm đạo quá gắt gao. Tả Quân cho rằng việc cấm đạo, bắt bớ chém giết các nhà truyền giáo, giáo dân, bế môn tỏa cảng không cho người Tây phương vào giao dịch buôn bán, là một chính sách hết sức sai lầm.

Vậy cho nên, Minh Mạng không ưa những thái độ ương ngạnh đó nhưng vì uy thế, tài đức của Tả Quân lớn quá nên nhà vua chưa thể ra tay, mà đợi đến khi ngài thất lộc, con nuôi ngài làm binh biến bị triều đình đánh dẹp sau 3 năm ròng rã, thì vua mới dám hài tội của ngài.

Thương thay một vị trung thần, lương đống của quốc gia!

=========================

Những câu nói nổi tiếng của Đức Tả Quân:

Khi đánh trận đầm Thị Nại (1801), lúc Võ Di Nguy trúng đạn tử trận, quân hơi hoảng, Nguyễn Ánh nói ông rút quân, ông nói với vua rằng sắp thắng và động viên binh sĩ:

"Báo đền ơn chính là vào đêm nay, sống thì cùng nhau hưởng phú quý, chết thì Triều đình hương khói phụng thời."

Khi làm tổng trấn Gia Định ông có nói: "Khởi nghĩa nông dân là do bọn tham quan bốc lộc nên họ khởi nghĩa, chỉ cần trừng trị bọn tham quan họ không cần khởi nghĩa."

Và khi chuẩn bị chém cha vợ vua Minh Mạng ông tâu rằng: "Chống tham nhũng như chống mối phải từ nóc nhà mà chống xuống. Đám quan lại tham nhũng như bầy mối càng to thì đục khoét càng dữ không diệt trừ tận gốc thì nhà sập, lúc đó bệ hạ và quần thần muốn đỡ cũng đỡ không nổi đâu!"

Khi ông ra lại khai quan, không tỏa cảng thì ông nói: "Bế quan tỏa cảng là không nên, có nhà mà đóng cửa cài then thì làm sao gió vào cho được gió không vào được thì người ta làm sao mà khỏe."

=========================



Toàn thân tượng đồng Đức Tả Quân (đúc vào năm 2008) trong lăng Ông (Bà Chiểu).

Khuôn mặt tượng đồng Đức Tả Quân trong Thượng Công miếu (tức Lăng Ông). Khuôn mặt được chế tác dựa trên chân dung ngài trên tiền giấy 100 đồng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa in năm 1966.

Đền thờ Tả quân Lê Văn Duyệt trong Lăng Ông (Bà Chiểu).

La de - Bia Con Cọp nổi tiếng một thời...“Chiều chiều anh nhấp La deThương em côi cút muốn che chở dùm!”— Fb Hoàng MinhT...
21/08/2021

La de - Bia Con Cọp nổi tiếng một thời...

“Chiều chiều anh nhấp La de
Thương em côi cút muốn che chở dùm!”
— Fb Hoàng Minh

Trước năm 1975, người miền Nam ít khi nói đến từ bia, mà nói là la-de nhưng viết thì là la-ve. Rủ nhau đi làm ít la-de, nhâm nhi la-de, mời anh nâng ly…

Khúc đường Phạm Ngũ Lão – Bùi Viện bây giờ là phố Tây ba lô, trước năm 1975 vốn là khu ăn nhậu sầm uất, chiều chiều bàn ghế bày ra đầy vỉa hè, khách bình dân hay trung lưu vẫn tạt vào. Món nhậu bình dân khoái khẩu của người Sài Gòn lúc đó là uống la-de Con Cọp nhắm với tôm khô củ kiệu (bây giờ thì cả la-de Con Cọp không còn và món tôm khô củ kiệu cũng dần mai một trên bàn nhậu). Giống như Honda được gọi cho xe máy, la-de cũng được gọi cho bia nhưng từ đâu mà lại có chữ la-de?

La-de từ đâu anh tới?

Giả thuyết thứ nhất cho rằng xuất phát từ cụm từ beer Lager, Lager là một dòng bia nhẹ kiểu Đức, nên người ta nói chệch từ lager thành la-de.

Giả thuyết thứ hai liên quan đến sự ra đời của hãng bia BGI làm ra bia Con Cọp. Lần ngược thời gian, năm 1875 hãng BGI được thành lập tại Sài Gòn bởi một sĩ quan hàng hải giải ngũ có tên Victor Larue. Tên BGI là viết tắt của Brasseries Glacières d’Indochine (hãng bia và nước đá Đông Dương, đến năm 1954 không còn Đông Dương nữa nên chữ “In” đổi lại là Internationales – Quốc tế), lúc đầu chủ yếu làm nước đá, sau mấy năm mới sản xuất bia và nước giải khát.

Sản phẩm bia Con Cọp bên cạnh hình con cọp trên nhãn, hai bên có hai chữ Pháp là Biere Larue, Larue chính là tên ông chủ hãng, phát âm theo tiếng Việt là la-ruy-ê đọc liền nhau, dân Việt đọc chệch đi thành la-de, rồi lâu dần bỏ luôn chữ bia, gọi la-de thôi và la-de cũng dần trở thành cách hiểu để nói về bia của người miền Nam.

Tùy mỗi người tin, còn bản thân tôi tin rằng chữ la-de xuất phát từ giả thuyết thứ hai.

Con Cọp làm trùm

Ngoài hai loại bia Bière Royale và Bière Hommel (loại nhẹ), hãng BGI sản xuất chính hai loại bia khác nổi tiếng hơn.

Loại thứ nhất là bia xuất khẩu, gọi là bia 33 Export, cái tên 33 đơn giản là do nó đựng trong chai có dung tích 0,33 lít. Bia này có độ cồn cao hơn nên vị uống đậm hơn. Trên nhãn bia ghi chữ bia theo nhiều ngôn ngữ khác nhau:Bière (tiếng Pháp), Beer (tiếng Anh), Bier (tiếng Đức), Bir (tiếng Indonesia), Birra (tiếng Ý)…

Loại thứ hai phổ biến nhất là bia Con Cọp, đựng trong chai có dung tích 0,66 lít nhưng không hiểu sao ở vỏ chai chỉ ghi dung tích là 0,61 lít. Đây là loại bia phổ biến được đông đảo người tiêu dùng đón nhận, từ người lao động bình dân cho đến trí thức hay đại gia, từ nhà hàng đến quán cóc lề đường đều có hình ảnh của bia Con Cọp.

Binh lính và sĩ quan Việt Nam Cộng hòa cũng rất ưa chuộng bia Con Cọp nhưng giá mua cao, nên Chính phủ đã ký hợp đồng với BGI sản xuất bia với nhãn riêng để bán lại cho quân đội, cảnh sát và viên chức, giá rẻ hơn, gọi là bia Quân Tiếp Vụ.

Năm 1965, quân Mỹ đổ vào miền Nam, năm 1966 Mỹ xây dựng căn cứ Long Bình làm kho hậu cần khổng lồ phục vụ quân đội. Dân Tam Hiệp, Biên Hòa đua nhau mở cửa hàng ăn uống phục vụ nhu cầu lính Mỹ, trong đó có bán bia Con Cọp. Họ phát hiện ra lính Mỹ có bia lon riêng do quân đội cung cấp (phát hay bán rẻ gì đó) nhưng lính Mỹ chê, họ nói là chua và nhạt nên không thèm uống, mà đi mua bia Con Cọp uống. Điều này đủ thấy khẩu vị của bia Con Cọp cuốn hút ra sao từ ta đến Tây.

Chiến thắng thuộc về kẻ thừa kế

Sau năm 1975, BGI bị quốc hữu hóa và hãng mẹ BGI tiếp tục dùng nhãn hiệu này trên toàn thế giới, trong khi đó loại bia tại Việt Nam được Nhà máy bia Sài Gòn (tức BGI cũ) sản xuất ra theo công thức của bia 33 không được mang nhãn hiệu 33 vì đây là nhãn hiệu đã đăng ký toàn cầu, nên đổi là 333, chỉ thêm số 3 vào cho khác đi.

Đến năm 1991, BGI mới quay lại Việt Nam nhưng không giành lại thời huy hoàng, dù cho những tháng đầu tiên đã khiến bia Sài Gòn không bán nổi một két và sau cùng BGI phải bán lại cho Foster của Úc. Lý giải thất bại của BGI, đó là bia Con Cọp đã trở lại với chất lượng kém hơn xưa. Có hai nguyên nhân chưa hề được xác nhận chính thức:

Thứ nhất, BGI đã sử dụng công nghệ mới hiện đại, ủ men nhanh hơn nên mùi vị khác trước. Trong khi bia Sài Gòn vẫn dùng công nghệ cũ, lạc hậu của BGI trước đây nên vẫn giữ nguyên được chất lượng quen thuộc.

Thứ hai, lúc đầu BGI rất muốn liên doanh với bia Sài Gòn để sản xuất tại nhà máy cũ ở Sài Gòn nhưng không được, đành phải về Tiền Giang. Một bí quyết then chốt trong sản xuất bia Con Cọp trước đây chính là nguồn nước, ở Tiền Giang không có nguồn nước ngầm giống của nhà máy ở Sài Gòn nên chất lượng cũng không bằng. Điều này cũng tương tự rượu Bắc Hà nổi tiếng ở Lào Cai, khi người làm rượu ở Bắc Hà đi nơi khác làm rượu, cũng con người đó, công thức đó, nguyên liệu đó nhưng rượu không ngon vì dùng nguồn nước khác…

Thế nên kẻ thừa kế của bia Con Cọp lại đánh bại được chính chủ. Nhãn hiệu Con Cọp nổi tiếng năm xưa không còn nhưng hương vị của nó vẫn ở lại cùng các “bợm bia”.

Theo Phạm Trường Giang

* Chú thích hình:

- Các loại bia... Con Cọp - La de...

- Bia La de Trái Thơm. ^^

- Bia 33 Export, tiền thân bia 333 bây giờ...

- Bia chai 33 - oanh liệt một thời...

- Một đại lý bia ở Sài Gòn trước 1975...

- Quảng cáo bia La-de trên đường phố Sài Gòn cũ...

- Cửa hàng giải khát những năm 60 ở Sài Gòn...

Sài Gòn cực lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi...Với cái thẻ bác sĩ, tôi thông chốt dễ dàng từ quận này sang quận khác. Các anh...
20/08/2021

Sài Gòn cực lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi...

Với cái thẻ bác sĩ, tôi thông chốt dễ dàng từ quận này sang quận khác. Các anh chốt chặn thấy là phẩy tay cho qua nhanh. Thà là có các anh ngồi thì mình còn thông chốt được chứ không có anh nào, chỉ có các hàng rào sắt kẽm g*i chằng chịt khắp các con hẻm thì cái thẻ của mình hoàn toàn vô dụng. Không biết thường ngày những cái khung kẽm g*i đó cất ở đâu mà khi có dịch thì xuất hiện đầy khắp hang cùng ngõ hẻm!

Tôi đã nổi điên hét vào mặt một anh phó chủ tịch phường: "Các anh muốn giết người à? Hàng rào kiểu này thì xe cấp cứu vào kiểu gì? Xe chữa lửa vào kiểu gì?". Tôi thật sự không hiểu tác dụng của các rào kẽm g*i đó để làm gì. Chặn con virus chăng? Virus bay vi vu trong gió chứ có thèm đứng ngoài hay trong hàng rào đâu. Vậy thì hàng rào chỉ có tác dụng nhốt dân, nhưng mà nhốt để làm gì? Để cho dân đừng có đi và do vậy sẽ không có lây à? Là giải pháp bảo vệ dân à? Thực tế không phải vậy, dân đang chịu trận vì người hàng xóm F0 mà không biết phải làm sao. Một hàng xóm F0, hai ngày sau cả nhà đó F0, bốn ngày sau cả xóm đó F0, tám ngày sau những cái quan tài xuất hiện một cách yên lặng, sau đó sẽ đi lòng vòng để ra được đường lớn vì đầu hẻm đã bị rào kẽm g*i.

Có những bệnh nhân chỉ cần ngó qua đã biết sống không nỗi trong 24 tiếng đồng hồ tới. Đó là những bà nội, bà ngoại mập mập tròn tròn, nằm ngủ li bì, phản ứng chậm chạp... Oxy không đủ nên sức sống tựa như ngọn đèn hết dầu, leo lét, chực tắt trong giây lát. Nhìn là biết bị nhiễm Cúm Tào rồi nhưng người nhà thì nhất mực là "em mớt test cho bà ngày hôm kia, âm tính". "Test lại đi em..."... "Dạ... dương tính rồi thưa bác sĩ. Mà, bà em mới đi chích ngừa hôm kia. Sau chích thì bà trở yếu như vậy...". Chẳng phải do chích ngửa đâu em. Bà đã bị nhiễm từ trước đó rồi, qua giai đoạn ủ bệnh, bây giờ mới phát. Khi bệnh nhân ủ rủ như con gà rù thì cơ hội để cứu giúp rất mong manh. Thế nhưng nếu nhanh tay chút thì cũng thoát được cửa tử.

Cái con Vi rút kia bản thân nó không có độc tố. Nó chỉ chuyên tâm đi tìm tế bào niêm mạc hô hấp để làm tổ, mượn nhân tế bào để sao chép thông tin di truyền và tổng hợp protein, duy trì nòi giống thôi. Kẻ ăn nhờ ở đậu kia xâm nhập vào cả hô hấp trên và hô hấp dưới, khác với thằng anh nó là Sars CoV 1 chỉ làm tổ ở phổi. Chính vì sinh sản ở niêm mạc hô hấp trên nên mới gây lây dữ. Chu kỳ sinh sản của Cô chỉ có 7 ngày nằm giường đẻ và khi phóng thích ra hằng hà sa số những bản sao, chúng tiếp tục xâm nhập tế bào mới và lan xuống hô hấp dưới. Khi xâm nhập tế bào niêm mạc phổi thì chúng kích hoạt hệ miễn dịch của cơ thể.

Ở chỗ này có vài sự nhầm lẫn. Người ta nói rằng bệnh nhân chết là do hệ miễn dịch "yếu". Thật ra không phải vậy, phải nói là ngược lại. Người càng già và nhiều bệnh nền thì bên trong cơ thể có sẵn rất nhiều yếu tố miễn dịch được sinh ra trong suốt cuộc đời từng trải với môi trường cùng bệnh tật. Những yếu tố miễn dịch này hoạt động mạnh đến nỗi làm tăng dịch viêm trong mô kẽ phổi, làm đông đặc các mạch máu nhỏ và thậm chí còn sinh ra cơ chế tự miễn, tức là tấn công vào tế bào lành.

Thật ra virus đang nằm trong lòng tế bào niêm mạc, đâu có chường mặt ra môi trường huyết tương hay mô kẽ để bị thực bào. Hệ miễn dịch bị báo động và hoạt động quá mức đến mức gây hại cho cơ thể ngay cả sau khi chu kỳ sinh sản của virus đã chấm dứt. Trên một biểu đồ, người ta thấy virus từ ít tăng lên nhiều trong 7 ngày đầu, sau đó từ nhiều giảm xuống ít đến bằng 0 trong 7 ngày tiếp theo. Song, phản ứng viêm lại xảy ra rất kinh khủng vào sau ngày thứ 14 đó và càng ngày càng tồi tệ, mặc dù chẳng còn bóng kẻ "giặc" nào trong cơ thể. Rõ ràng là virus đã chọc giận hệ miễn dịch khiến cho hệ miễn dịch tấn công vào chính cơ thể của mình một cách mù quáng.

Hiểu vậy nên phải tìm mọi cách kìm hãm phản ứng viêm và ngăn ngừa đông máu ngay từ khi chớm phát hiện phản ứng viêm. Thuốc để chữa Co-Vid căn bản là kháng viêm và chống đông máu. Kháng viêm bằng gì và chống đông bằng gì thì tùy quan điểm. Đối với đại dịch thì phải tìm giải pháp nào mà dễ tìm, dễ xài nhất cho dân chúng. Nếu dùng kháng viêm mà mỗi lần uống một bụm 8 đến 12 viên thuốc "đề-xa" thì khá vất vả. Còn chống đông mà bắt phải đi tìm các biệt dược lạ hoắc hay đắt tiền thì khó áp dụng cho số đông. Vậy nên bác Trung vẫn cứ thích dùng thuốc đơn giản, dễ tìm, uống 1-2 viên một ngày cho gọn.

Thấy vui khi bạn Loan ở chung cư Era quận 7 nhắn tin: "Em khỏe rồi, SpO2 của em hôm nay lên 97 rồi". Cái ngày gặp Loan, bạn như không còn sức để làm gì, mặt mày ảm đạm, nói chẳng ra hơi. Niềm vui khi anh Phương gọi nói: "Má tui hôm nay tươi tỉnh lắm rồi". Bà cụ ở tuổi trên 80. Cô Lam gọi báo "Em theo cách của anh, chỉ dẫn cho ông anh, giờ ổng khỏe rồi"...

Suốt tuần qua ngày nào cũng hoạt động hỗ trợ sức khoẻ trong các xóm đạo trên Tân Bình. Có mấy thanh niên sốt, ho... bảo bác sĩ cho thuốc cảm ho, viêm họng. Bác sĩ hỏi anh test Cô-Vit chưa, anh nói "Em test rồi, âm tính. Ba ngày em test một lần, tất cả đều âm tính". Tôi bảo "Ông test lại đi, bởi vì việc điều trị viêm họng, viêm phổi và điều trị cho Covid là hoàn toàn khác nhau". "Dạ, để em mua đồ tét lại"... "Dạ, bác sĩ ơi, dương tính rồi!" "Vậy thì test cả nhà đi... Dạ, cả nhà dính hết rồi.

Khỏi nói cũng biết dính cả nhà. Có dịch mới có dịp xâm nhập nhà cửa của dân Sài Gòn ở khắp nơi, hang cùng ngõ hẻm. Ai đó ngày xưa hát "Sài gòn đẹp lắm, Sài gòn ơi, Sài gòn ơi..." có lẽ là người ưa dạo phố. Sài gòn thời Pháp xây dựng thì đường xá, kiến trúc, cây xanh đẹp đẽ. Có dịp vào nhà dân ở khu Đoàn Văn Bơ, Xóm Chiếu, khu Xóm Đạo Tân Bình... thì mới thấy hết cái thật của Sài Gòn. Hẻm hóc, chật chội, ngổn ngang, nhếch nhác, tối tăm... Một gia đình nhiều thế hệ sống chung. Trẻ con nằm lê dưới đất, người già nằm trong những chiếc giường nhỏ hẹp... Những người Bắc Di Cư ngoan đạo, chấp nhận số phận của mình, xem đó là sự an bài của Chúa... Trong những cái nhà hộp quẹt như vậy không lây cả nhà mới là lạ.

Xóm đạo dường như không có tiếng khóc khi có người mất.Giáo dân tin rằng linh hồn đã về với Chúa nên chỉ làm nghi lễ đám tang trong yên lặng. Sáng nay đi ngang qua một nhà có người vừa qua đời, chỉ có một người con ngồi trước quan tài, thật lặng lẽ, không khách thăm, không kèn trống... Những người vừa từ trần đó vẫn còn hạnh phúc vì ít ra còn có con cháu vuốt mặt, có Cha nhà thờ đến làm lễ hoặc có Thầy Chùa đến tụng kinh. Do vậy, nhiều gia đình chấp nhận để cha mẹ trị bệnh tại nhà. Ngưởi ta dần dần bắt đầu chấp nhận chuyện sinh tử. Người ta bắt đầu không còn bàn tán về chuyện ai chết, ai sống. Người ta nhận được kết quả xét nghiệm dương tính cả nhà và chỉ cầu mong Chúa che chở. Nếu Chúa gọi đi thì cứ phải đi. Người ta không còn tránh né con virus quái ác kia nữa. Có tránh cũng không tránh được. Có ở nhà đóng cửa kín mít, không thò chân ra khỏi ngạch cửa suốt mấy tháng trời mà vẫn bị nhiễm, không biết bằng cách nào.

Con người quá nhỏ bé trước thiên nhiên. Cứ 100 năm lại xảy ra đại dịch như thể một sự thanh lọc nào đó của tạo hóa. Những kẻ ngỗ ngáo thì ra sức hô hào chống dịch như chống giặc, rằng trang bị vũ khí cho bác sĩ để giết giặc Covid-19! Tôi tin rằng những kẻ đó chưa từng dám bước chân đến nhà bệnh nhân nhiễm virus, nắm bàn tay của bệnh nhân xem ấm lạnh thế nào. Những kẻ khờ khạo thì chống dịch theo kiểu chăng dây, ngăn đường. Càng ngăn cản chừng nào thì càng làm bít tắc hệ tuần hoàn xã hội và dẫn đến cái chết của xã hội.

Con virus đã kích hoạt phản ứng viêm của cơ thể và đồng thời kích hoạt luôn cả phản ứng viêm của xã hội. Người ta đã phản ứng thái quá và sai vấn đề một cách nghiêm trọng. Trong khi phản ứng viêm bùng phát, hệ miễn dịch đã không ăn được xác con virus nào lại đi tấn công tế bào lành của cơ thể. Trong xã hội, người ta cũng không tấn công được đứa giặc nào mà chỉ làm chết thêm dân chúng từ những giải pháp ấu trĩ, thiển cận, thiếu suy nghĩ. Dân chết không phải do Covid mà chết vì tất cả các mặt bệnh khác không được chữa trị. Dân chết không phải do Covid mà chết vì đói, vì sợ hãi.

Đã đến lúc phải chấp nhận một sự thật rằng mọi giải pháp "chống giặc" đều vô nghĩa. Virus Covid không phải đến với thế gian này để tạo nên tận thế. Covid đến và lấy đi sinh mạng một cách có chọn lọc.

Đừng chống nữa, đừng đánh nữa, đừng diệt nữa... Hãy khiêm tốn trước thiên nhiên. Hãy nhún nhường và chấp nhận.

Theo BS PHẠM XUÂN TRUNG

https://www.facebook.com/585762240/posts/10160149500497241/?d=n

Số phận của những nghĩa trang thời Việt Nam Cộng Hòa ra sao sau năm 1975, có thể nói thảm thương nhứt là số phận của Ngh...
20/08/2021

Số phận của những nghĩa trang thời Việt Nam Cộng Hòa ra sao sau năm 1975, có thể nói thảm thương nhứt là số phận của Nghĩa Trang Biên Hòa, nơi an nghĩ của những binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa, nhiều nghĩa trang trên thế giới vẫn dành sự cảm thương cho kẻ thua cuộc một nơi yên nghỉ vĩnh hằng dù khác màu da chủng tộc, trong khi ở Việt Nam thì hận thù cả những ngôi mộ.

- Trước 75

Dạo quanh và tìm lại ký ức những ngôi mồ nay đã không còn, trong số các nghĩa địa tại Sài Gòn cách nay nửa thế kỷ, tôi không hình dung ra được khu nghĩa trang giải tỏa sau năm 1975, nằm phía sau Bộ Tổng tham mưu cũ và phía đối diện là Trung tâm hành quân. Đó là nghĩa trang của Hội tương tế Bắc Việt. Nhưng trong bài ký “Hui nhị tỳ I” viết hồi năm 1952 của Bình Nguyên Lộc thì đây không chỉ là nghĩa địa của Hội tương tế người Bắc di cư qua nhiều thời kỳ mà có cả mộ phần của người miền Trung và miền Nam nữa.

Ông viết: “Riêng dân chết của Nam Việt họ tự trị mỗi tỉnh một ô riêng ngăn ranh giới bằng dây kẽm g*i, ý chừng ngừa xâm lăng”.

Chuyện xâm lăng mà Bình Nguyên Lộc nhắc đến ở đây ý nói đến dòng người di cư ở thôn quê lên Sài Gòn vì chiến tranh từ giữa thập niên 1950.

Ngay cả nghĩa trang tư gia của dòng họ Ðỗ Hữu Phương ngày xưa nằm ở vườn Bà Lớn trên đường Phan Thanh Giản trong một khu đất riêng biệt hẻo lánh cũng bị xâm lấn: “Người sống tràn đến đây đốn rụi lũy tre xanh và cả vườn xoài bên trong, không còn một cây để che mồ. Những con đường mòn trải sạn trắng trong nghĩa địa đã biến thành những lối mòn ngập đất bột và cái ao sen ở giữa ngày xưa liễu rũ soi bóng dưới nước xanh lơ, bây giờ dùng làm hầm đổ rác”.

Tôi không hình dung ra được nghĩa trang Bắc Việt tương tế cũng chính vì khu vực này toàn là doanh trại quân đội, nào là trại Trần Hưng Ðạo, Bộ Tổng tham mưu, phía xéo tay trái là cổng Phi Long vào phi trường Tân Sơn Nhất. Bước vào khu vực này thường dành cho những đoàn đưa đám chứ người dân qua lại nơi đây thường không để ý. Ngay cả ông Bình Nguyên Lộc lang thang Sài Gòn cũng chỉ biết đường vào nghĩa trang này phải rẽ vào Ngã ba Ông Tạ, qua chùa thì thấy cổng nghĩa trang.

Nhưng thực tế từ chùa Ông Tạ đến được phần đất rộng lớn của Hội tương tế Bắc Việt phải đi thẳng băng qua đường Cách Mạng 1/11 (đường Nguyễn Văn Trỗi) xéo công viên qua đường Võ Tánh (Hoàng Văn Thụ ngày nay), là đến sân vận động quân đội (nay là sân vận động Quân khu 7), rồi đi theo con đường không tên đến nghĩa trang.

Chính xác từ chùa Ông Tạ đến được nghĩa trang còn xa cả hơn cây số. Con đường không tên đó ngày nay mang tên Phổ Quang, phía trên là đường Ðào Duy Từ là một khu gia cư lớn hầu hết dành cho người Bắc sau năm 1975 vào Sài Gòn sinh sống.

Bắc Việt nghĩa trang tương tế hội, phía sau là khu dãy nhà của Bộ Tổng tham mưu VNCH ,nghĩa trang Bắc Việt có từ bao giờ không ai biết chính xác, bởi mãi đến đầu thập niên 1950, nơi đây vẫn còn thưa thớt dân cư, hầu hết là đất đai quân sự.

Ông Bình Nguyên Lộc tả: “Qua khỏi chùa, cảnh như cảnh quê miền Ðông với những con đường mòn núp bóng bờ tre, với các cây rơm phơi giữa đám gốc rạ. Rồi thì tới cửa nghĩa địa”. Tuy nhiên, nhà báo Phạm Quỳnh ở ngoài Bắc vào Sài Gòn trong chuyến đi Pháp dự đấu xảo Marseille năm 1922, có đến viếng nghĩa trang này. Ông viết trong cuốn “Pháp du hành trình nhật ký”: “5 giờ chiều (ngày 14/2/1922) cùng mấy ông ngoài ta (người Bắc) đi xem vườn Bắc kỳ nghĩa trang, cách thành phố 6 – 7 kilomet. Ðó là nơi nghĩa địa của người Bắc ở Sài Gòn. Số người ngoài ta vào lập nghiệp trong ấy ngày một nhiều, mà hướng lai (từ trước đến nay) không có một khu đất nào riêng để chôn những người bất hạnh mất đi. Nay nhờ có mấy ông hữu tâm xuất xướng lên, mua được một khu đất chừng mười mẫu, kinh doanh làm thành một vườn nghĩa địa, hiện nay đã có vài ba mộ mới chôn. Tình đồng quận, nghĩa tử sinh, thật là một việc đáng khen lắm”.

Việc ông Phạm Quỳnh dùng chữ “vườn nghĩa địa” làm tôi hình dung ra được thời ấy nơi người sống đã dành cho người chết một nơi an nghỉ nên thơ với khung cảnh hữu tình mà ngày nay người ta gọi là “công viên nghĩa trang” như cái mốt nở rộ cho các nhà kinh doanh địa ốc dành cho người chết mò đến các tỉnh quanh Sài Gòn như Long An, Bình Dương, Ðồng Nai đầu tư kiếm nhiều lợi nhuận. Một vườn nghĩa địa chỉ có vài ba nấm mồ thì phong cảnh hẳn nhiên là nên thơ giữa cảnh trí rộng lớn, còn một khi đông đúc người chết chen nhau phần mộ thì cái đẹp hữu tình thiên nhiên kia chẳng còn ý nghĩa gì nữa, nhất là từ khi các làn sóng di cư qua nhiều thời kỳ từ các tỉnh sau vĩ tuyến 17 đổ về Sài Gòn tìm sự bình yên làm ăn sinh sống.

Do vậy, cái tên nghĩa trang Bắc Việt cũng chỉ là một cái tên chung nhất cho khu vườn nghĩa địa có từ trước khi ông Phạm Quỳnh ghé Sài Gòn hồi năm 1922. Sau đó vài năm đã có các Hội tương tế các tỉnh miền Nam xin gia nhập làng nghĩa trang này. Năm 1927, lần lượt xuất hiện các Hội Gò Công tương tế, Sa Ðéc, Cần Thơ… rồi Hội tương tế tỉnh miền Trung cũng tham gia xí phần đất dành cho người về bên kia thế giới.

Vài ba thập niên sau, nghĩa địa Bắc Việt có thêm tình bạn láng giềng từ khắp nơi làm ấm cúng cho người nằm xuống miền đất lạnh quê người. Bình Nguyên Lộc dí dỏm: “Những đêm mưa dầm, ma ở đây chắc không lạnh bao nhiêu, vì quanh họ đông đúc những gương mặt thân yêu, tha hồ mà trò chuyện cho ấm lòng. Tỉnh này muốn qua tỉnh kia thăm bạn, chỉ phải bước qua một hàng rào. Gần hai mươi tỉnh sát cách nhau để dựng lên một miền Nam trong cõi âm…”.

- Sau năm 75

Sau năm 1975, nghĩa trang Bắc Việt cùng với nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi giải tỏa dời mộ gần như cùng thời gian.

Ông Ngô Ðình Cẩn chôn ở Bắc Việt nghĩa trang cùng hai ông em Ngô Ðình Diệm và Ngô Ðình Nhu chôn ở nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi bị cải táng về an nghỉ tại Lái Thiêu. Trước đó, từ giữa thập niên 1960, làn sóng di cư từ các tỉnh miền Trung ồ ạt vào Sài Gòn sinh sống, Hội tương tế miền Trung đã tìm riêng cho mình mảnh đất làm nghĩa trang tại Gò Dưa (Thủ Ðức).

Ở Sài Gòn, nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi được xem như nghĩa địa “quý tộc” dành riêng cho quan chức từ thời Pháp và những người thuộc giới thượng lưu. Ðến khi giải tỏa, ngoài trừ những người Pháp không biết có quy hồi cố hương hay không nhưng người Việt giàu có, quyền cao chức trọng được thân nhân cải táng mang về quê chôn cất chứ ít khi hỏa táng đem tro cốt vào cất trong chùa.

Tiếp đến là giải tỏa khu nghĩa trang lính Pháp tại Ngã tư Bảy Hiền (sau này xây thành Trung tâm triển lãm và hội chợ Tân Bình) và một số mồ mả quanh khu vực Lăng Cha Cả. Hồi học cấp hai có vài lần tôi đến phần đất đầy mồ mả lúp xúp thẳng hàng như bàn cờ vua nhưng lòng chẳng thấy sợ ma bởi nghĩa trang này hoang phế, không còn người chôn.

Ðất Thánh Chà cũng nằm trong trường hợp tương tự, khu Hoà Hưng nơi gia đình tôi cư ngụ, có nhiều mảnh đất nghĩa trang nhỏ của người gốc Ấn, sau năm 1954 và 1975 người Ấn di cư ra nước ngoài, đất Thánh Chà đóng cổng suốt năm hiếm khi tiếp nhận một đám ma.

Sau đó, nghĩa địa Ðô Thành Chí Hoà bị giải tỏa vào giữa thập niên 1980. Ðây là nghĩa trang dành cho giới bình dân. Cả hai nghĩa trang của giới giàu nghèo khi chết đều như nhau trở thành công viên cho dân Sài Gòn dạo cảnh. Bà cố, ông nội của tôi đều chôn ở nghĩa địa Ðô Thành. Nhớ hồi nghĩa trang này dựng tượng ông Phật Ðịa Tạng, bà con kháo nhau linh thiêng lắm.

Người không đi đưa đám vẫn cứ ghé nghĩa trang thắp nhang cầu xin mọi chuyện hanh thông. Sau khi giải tỏa, tượng Phật này dời về An Dưỡng Ðịa ở Phú Lâm. Một nghĩa địa lớn của người Hoa Chợ Lớn là Nhị tỳ Quảng Ðông phía trên trường đua Phú Thọ cũng được giải tỏa, mở đường và xây Trung tâm thương mại chung cư Thuận Kiều Plaza. Nhiều câu chuyện ma được thêu dệt nên khiến có người sợ ma không dám mua nhà ở đây.

Do làn sóng di cư từ các tỉnh về Sài Gòn, những vùng đất trống quanh Sài Gòn nhà cửa cất lên san sát. Người chết cần thêm nhiều nghĩa trang mới hoặc mở rộng thêm như khu An Dưỡng Ðịa Phú Lâm, nghĩa địa Bình Hưng Hoà. Trong đó Bình Hưng Hoà là khu nghĩa trang lớn nhất do đất đai rộng rãi, có thể chứa đến vài chục ngàn mộ phần. Người Sài Gòn sau năm 1975 thường gọi cái tên Bình Hưng Hoà như một địa chỉ dành cho người chết vì một số nghĩa trang nói ở trên đã bị giải tỏa không còn cái tên để nhớ. Nhưng rồi Bình Hưng Hoà cũng bị giải tỏa tiếp tục để xây công viên và khu dân cư. Xét cho cùng, người chết trở về với cát bụi mà cũng không được yên thân, đất đai Sài Gòn chỉ dành cho người đang sống.

Riêng Nghĩa trang Biên Hòa, nơi chôn cất các tử sĩ VNCH ngày trước vẫn còn đấy tuy cái tên đã đổi thành Nghĩa trang Nhân dân Bình An.

Nghĩa trang Biên Hoà ít được thân nhân người quá cố chăm sóc nên hàng ngàn mộ phần hư hao, cảnh quan tiêu điều.

Một số người hảo tâm hay đoàn thể đồng hương sống ở nước ngoài thỉnh thoảng về đây thắp nén hương tưởng niệm, tu bổ một số phần mộ nhưng chẳng thấm vào đâu nếu như không được chính quyền hiện thời quan tâm đúng mức xem nghĩa trang như một chứng tích chiến tranh, chẳng cần phải phân biệt bạn và thù.

Theo Sài Gòn Xưa

Address

Ho Chi Minh City
700000

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Sài Gòn Có Gì Vui? posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share